Thứ Tư, 17 tháng 10, 2007

Mùa thu ở café T.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/travel7.html

"Quán café vỉa hè yêu quý của nàng đây rồi. Vẫn gốc cây bàng với cái bệ xi măng ố vàng vết đáy cốc, vẫn đám khách lố nhố ngồi đọc báo trên những chiếc ghế nhựa xanh đỏ và những đốm nắng rung rinh trên mái hiên nhà cổ."

(Trích phần mở đầu - Phải lấy người như anh)

Trong hàng tá những quán café de Hanoi cũ cũ xấu xấu hẹp hẹp rẻ rẻ, quán này có duyên với em nhất. Trong một dòng nhật ký hay một dòng suy nghĩ trở đi trở lại nào đó, em gọi T. là quán bạn bè. Gọi như vậy là chính xác lắm, vì chẳng mấy khi em phải (được) ngồi một mình ở đó. Luôn luôn có những người hoặc vui tính hoặc thảo mai hoặc cả hai từ đâu hiện ra và lôi em vào những câu chuyện liên tu bất tận. Chính họ là sợi dây giữ cho cái duyên của em với T. không nhạt nhòa ngắn ngủi như Đ.

Nếu như Đ. chỉ mới xuất hiện trong đôi truyện ngắn dở dang và một cái tùy bút viết cách đây 5 năm, thì T. đã trở đi trở lại trong cả ba cuốn tiểu thuyết non tay cả hoàn thành lẫn dang dở đều trong năm 2005 vừa qua. Nó như một không gian không thể thiếu cho các nhân vật của em, dù sắp lấy chồng giàu hay mới bỏ việc, cô (và cả anh) ta cũng có thể đến và tìm lấy một khoảng bình yên cho bản thân. Cũng như em đã từng trải qua những ngày mắt cười trong mắt của tình yêu đầu tiên ở T., rồi khi chia tay lại tìm thấy ở T. một vạt-nắng-riêng trong khoảng triền miên "tay em lạnh, môi em lạnh".

Đoạn trích phía trên kia không phải tất cả những hình ảnh em nhớ về T. nhưng lại là những hình ảnh đặc trưng nhất. Ấy là T. của mùa thu... Tất nhiên ở T. có cả bốn mùa, nhưng nếu để chọn một mùa để đến với T., hay nói theo lời các bạn bè em là "ra T." thì em sẽ chọn mùa thu vì cái chỗ ngồi dưới hàng hiên đó hợp với những tia nắng mật ong và làn gió heo may dịu dàng hơn hết thảy.

Tưởng tượng, một buổi sáng Chủ nhật vô lo, dựng xe, cầm một tờ báo còn nóng hổi cả giấy lẫn tin tức, ngồi xuống, ghếch hờ chân vào thân cái ghế nhựa, vừa đọc cầm chừng vừa nhấm tách cà phê nóng được em bán hàng ưu tiên thêm hẳn nửa thìa bơ, bỗng đâu một chiếc lá bàng, vàng tươi hoặc đỏ ối, buông mình rơi để lại trên tàng cây một lỗ hổng, từ đó nắng vội vã rót xuống tóc xuống vai... đến phải sửa cái câu thơ của bản thân thành ra là: "người tình ơi anh đã thấy mùa thu chưa?".

Anh đã thấy mùa thu rồi em ạ, ở T.

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2007

Bốn mùa 1881

Đây có thể coi là truyện ngắn đầu tay tôi viết, theo lời khích lệ của một người bạn để dự thi trên một website về nước hoa. Kết thúc cuộc thi, tôi xếp hạng nhì. Sau đó, tôi biên tập lại để gửi cho tạp chí. Tháng 1/2007, truyện đã được đăng trên Kiến thức ngày nay.


Chuyến bay bị hoãn vì sương mù, bên hàng không bố trí cho nàng về một khách sạn cách nhà anh chỉ hai dãy phố. Nhưng nàng không gọi cho anh, nàng sợ phải nhìn lại một lần nữa ánh mắt bình lặng không trách móc của anh. Nàng cũng không báo cho T. bên kia, chỉ mệt mỏi lên nhận phòng. Để nguyên bộ quần áo dày cộp chuẩn bị cho những đợt mưa tuyết xứ người, nàng ngả xuống giường, những hình ảnh vuông tròn lẫn lộn trượt trong đầu. Nằm trằn trọc mãi không thể ngủ nổi, nàng mở vali tìm vỉ thuốc, thời gian gần đây nàng tìm nó thường xuyên. Đập vào mắt nàng, phía trên đống tư trang đã xếp gọn gàng là một vật rất quen thuộc.
Cái túi giấy màu trắng đục có hàng chữ mạ vàng. Đến bây giờ nàng cũng không nhớ đã tặng ông chủ nhà hàng món gì mà ông ta tặng lại nàng túi quà ngoại cỡ đó. Chỉ nhớ là cái túi quá đẹp và nàng đã bắt anh bỏ hết đống đồ trong ngăn kéo ra để lót nó xuống đáy cùng cho đỡ nhàu. Giờ nó không còn đẹp kỳ diệu như lúc ban đầu nàng mang về, nhưng cái màu trắng ngà của giấy và màu vàng nhũ của chiếc logo đó hợp với chiếc khăn len xanh sẫm thoảng mùi nước hoa của anh vô cùng. Không một bức thư. Không một mẩu giấy nhắn. Món quà chia tay trống trải nhưng vương vấn đến nao lòng…

*

Mùa thu năm ngoái, trời đầy gió và mặt đất đầy xác lá, nàng đang ngồi thu mình trong căn phòng nhỏ lắng nghe “nỗi im lặng phố khuya” như trong nhạc Phú Quang thì anh đến chìa ra hai tấm vé hoà nhạc. Trong tờ chương trình có ghi: Bản Bốn mùa - Concerto cho Violon của Vivaldi.
- Sao anh biết em thích Vivaldi?
- Anh không biết, bạn anh mới đưa vé chiều nay.
- Bạn anh là ai?
- Em không biết đâu.
Nàng thôi không hỏi thêm, cũng không trang điểm thêm, chỉ khoác một chiếc khăn lụa màu nhạt qua vai rồi lặng lẽ đi theo anh. Nhà hát Lớn đầy những người nước ngoài cao lớn, thanh lịch và lạ lẫm. Anh cầm khuỷu tay nàng, miết nhẹ nhẹ như trấn an. Đã lâu rồi kể từ khi T. đi, nàng mới lại đến những nơi hào nhoáng thế này. Hai người ngồi trong một lô tầng hai, nơi nghe tốt nhất và xem rõ nhất. Vị nhạc trưởng người Pháp duyên dáng đưa tay mời vị thần âm nhạc từ đâu đó trên mái vòm đậu xuống cây đũa mảnh. Những nốt thăng nốt trầm lan toả. Nàng nghiêng đầu, khép mắt. Hương thơm của một loại nước hoa lẩn quất giữa hai chiếc ghế của nàng và anh. Nàng không còn lắng nghe nữa mà đang cảm nhận. Tiếng violon réo rắt và mùi man mát trầm lặng của nước hoa đưa nàng tới xứ Lombardi miền Bắc Ý, tới với những cánh đồng hoa oải hương tím ngan ngát trải dài tới chân trời, những vườn cam vườn chanh trĩu quả bên bờ Địa Trung Hải... Giờ nghỉ giải lao, anh ra ngoài rồi trở vào, hương thơm theo những dao động không khí vỗ vào tâm trí nàng như đợt sóng.
- Anh dùng nước hoa?
- Anh vẫn dùng, từ lâu rồi mà.
- Vậy à? Em không biết.
Anh im lặng vài giây rồi nói ra một cái tên, Cerruti 1881. Nàng gật đầu lơ đãng nghiêng mặt hướng về phía anh hơn một chút, không nhận ra rằng từ nay cái ám ảnh kết bằng khói thuốc lá của T. sẽ không còn theo mình thường xuyên nữa.

*

Mùa đông đến, nàng ghi tên học thêm một “cua” tiếng Ý ngoài giờ. Trường ở ngoại ô, trên một con đường mà ánh đèn lấp sau tán cây. Anh đến đón nàng, chạy xe song song trên quãng đường tối nhất, lắng nghe những câu chuyện không đầu không cuối hay những từ nàng mới học và mỉm cười. Thi thoảng anh kéo nàng đi ăn món Ý ở một nhà hàng quen, ông chủ người Parma hay quàng một chiếc khăn màu ô-liu, luôn nói “Ciao, bella” mỗi khi nàng bước vào. Một lần, bên chiếc bàn trải khăn ca-rô, trong khi chờ món Pizza với xúc xích Parma, nàng cười vô tư lự, thì thào với anh:
- Nếu Nino vẫn quàng chiếc khăn kia và có thêm mùi Cerruti 1881, em sẽ yêu ngay.
Anh không cười, chỉ nhìn sâu vào mắt nàng như tìm kiếm một ẩn ý nào đó. Mấy ngày sau, nàng thấy anh cũng có một chiếc khăn len màu ô-liu.

*

Mùa xuân tới, nàng dọn về căn gác đầy ánh sáng. Ở đó, chai nước hoa Cerruti 1881 pour homme trong hộp giấy màu xanh úa vẫn đứng cô đơn trên giá sách giờ có thêm bạn mới là đống libri e taccuini của nàng.

*

Cuối mùa hè, T. xuất hiện, không phải bằng xương bằng thịt mà chỉ bằng một lá thư sáu trang viết tay bay bướm gửi từ một nơi cách nàng nửa vòng trái đất, đúng lúc nàng và anh đang chờ mùa thu tới để kết thúc cuộc sống chung không danh phận và tiến tới một ràng buộc thiêng liêng hơn. Trong căn gác nóng hầm hập vì mất điện, nàng thắp nến đọc thư T., anh nhìn xoáy đôi mắt long lanh nước và lung linh ánh nến của nàng, rồi im lặng ra khỏi phòng.

*

Nàng nâng chiếc khăn lên, ấp vào cổ, cái nham nhám của những sợi len thô to cọ lên làn da và mùi hoắc hương lẫn hoa y-lang y-lang mang mã số 1881 thoảng rụt rè len vào tâm trí, cảm giác vẫn như mỗi khi anh đi đâu về để nguyên khăn mũ khẽ cụng đầu vào thái dương nàng. Đến bây giờ nàng mới nhận ra, với nàng, anh cũng giống như chiếc khăn len đan bằng sợi thô, ấm áp chở che nhưng chưa bao đủ dài rộng để quấn và giữ chặt lấy nàng. Anh chỉ biết đến bên kéo nàng ra khỏi nỗi cô đơn lạnh lẽo, làm trái tim nàng ấm lại bằng mọi cách có thể. Và khi T. trở lại, trái tim nàng không còn cô đơn, anh lặng lẽ quay đi. Ngay cả việc đưa chiếc khăn với bao nhiêu kỷ niệm cho nàng, anh cũng làm lặng lẽ, như nhất định phải vậy, như một cử chỉ chăm sóc kín đáo cuối cùng. Nàng ngồi thẳng lên hít một hơi dài như để trấn áp sự xao động. Một cái gì đó sộc tới, thôi thúc, giục giã, nàng vùng chạy...

Còn nửa dãy phố nữa là nàng sẽ tới nhà anh. Trên vai nàng, từ những nếp cuộn của chiếc khăn len màu ô-liu, Cerruti 1881 toả hương dữ dội hơn bao giờ.

17h30, 31/3/2006