Thứ Tư, 28 tháng 1, 2009

Nuối tiếc

Đây là một truyện ngắn của Kate Chopin, tôi dịch xong hồi tháng 3/2005. Truyện đã đăng trên Kiến thức ngày nay tháng 11/2005

Moa-den(1) Aurélie có một thân hình khoẻ mạnh, đôi má hồng hào, mái tóc nâu đã điểm bạc và cặp mắt với ánh nhìn quả quyết. Bà thường mang một cái mũ của đàn ông khi ra đồng làm việc, khoác áo xanh kiểu lính khi trời lạnh và đôi khi đi ủng cao cổ.

Bà chưa bao giờ kết hôn, chưa bao giờ yêu. Hồi 20 tuổi bà nhận được một lời cầu hôn và đã từ chối thắng thừng. Đến tận bây giờ bà vẫn chẳng tiếc rẻ gì về việc đó. Vì thế nên bà sống khá cô độc. Bà chẳng có ai thân thích ngoài chú chó Ponto, đám người da đen sống trong những túp lều nhỏ giúp bà việc đồng áng, đàn gà, vài con bò, một đôi la, khẩu súng ngắn để bắn mấy con diều hâu trộm gà và một đức tin tôn giáo.

Một buổi sáng, Moa-den Aurélie đứng trước hiên, tay chống nạnh, nhìn một đám trẻ con -như vừa từ trên trời rơi xuống- đang đi tới. Hẳn là bà không trông đợi bọn trẻ cũng như chào đón chúng. Chúng là con của Odile, người láng giềng gần nhất đối với bà, tất nhiên là chỉ gần chứ không phải thân thiết gì!

Năm phút sau, người mẹ trẻ xuất hiện. Chị ta bế con bé Élodie, tay hờ hững dắt Ti Nomme, Marcéline và Marcélette bước lề mề theo sau.

Mặt Odile đỏ bừng, méo mó vì nước mắt và có vẻ kích động. Chị vừa nhận được điện gọi khẩn của xứ đạo ở quê, mẹ chị đang ốm nặng. Chồng chị thì ở tận Texas, chắc cách đây phải đến cả triệu dặm, và Valsin -anh chàng làm công người lai- đang đánh xe la, chờ để chở chị ra ga.

“Đừng hỏi gì, bác Aurélie, bác chỉ cần trông giúp cháu bọn trẻ đến khi cháu quay về. Dieu sait (2), nếu có cách nào khác thì cháu đã không phiền bác. Bác cứ coi chúng như con cháu trong nhà, đừng có chiều đứa nào hết. Cháu đây này, cháu đến điên dở vì chúng nó, Leon thì không có nhà, mẹ cháu thì chả biết sống nổi hay không!”- Quả là một viễn cảnh đau lòng khiến Odile cuối cùng cũng phải vội vã và hoảng loạn mà quay về cái gia đình chán nản của chị.

Chị lùa bọn trẻ vào trong bóng râm của mái vòm ngôi nhà dài, thấp. Ánh nắng trắng đập vào tấm ván cũ cũng màu trắng, mấy con gà đang vừa đi vừa bươi cỏ, và chị cất những bước nặng nhọc, vẻ mặt nghiêm nghị, thẫn thờ bước qua hàng hiên về phía cổng. Hương hoa cẩm chướng dễ chịu trong không khí và tiếng cười của những người da đen ngang qua những cánh đồng trồng bông…

Moa-den Aurélie đứng “chiêm ngưỡng” bọn trẻ. Bà đưa ánh mắt nghiêm khắc về phía Marcéline đang vẹo sườn bế con bé Élodie béo nục. Rồi cũng với ánh nhìn như vậy, bà lướt qua Marcélette đang i ỉ khóc vì bị Ti Nomme tai quái chọc phá. Sau một lát quan sát, bà trấn tĩnh lại, vạch ra trong đầu một loạt những việc phải làm với bọn trẻ. Bà bắt đầu cho chúng ăn.

Nếu như trách nhiệm của Moa-den Aurélie chỉ bắt đầu và kết thúc bằng việc cho lũ trẻ ăn như thế thì thật đơn giản. Cái chạn của bà cũng thừa sức làm được việc đó. Nhưng lũ trẻ không phải những con ỉn con, chúng đòi hỏi sự quan tâm mà Moa-den Aurélie không bao giờ ngờ được, bà sẽ phát ốm để làm việc đó.

Thực sự thì, trong vài ngày đầu, bà tỏ ra không thích hợp với việc trông nom lũ trẻ nhà Odile. Làm sao mà bà biết được rằng Marcélette luôn khóc nhè mỗi khi nghe ai nghiêm giọng nạt to cơ chứ. Đó là tính riêng của nó. Con bé chỉ đỡ quấy hơn khi thấy Ti Nomme mê mải với đám hoa lá, thằng bé ngắt hết sạch hoa dành dành và cẩm chướng của bà, để tìm hiểu cấu trúc thực vật.

“Hông bảo được Ti Nomme đâu thưa Moa-den Aurélie - Marcéline “lên lớp” cho bà- bà phải trói ló vào ghế ấy. Mẹ cháu thường làm thế mỗi khi ló quậy”. Chiếc ghế mà Moa-den Aurélie trói thằng bé khá rộng và thoải mái, nó chớp ngay cơ hội để đánh một giấc trên ghế trong một buổi chiều ấm áp.

Đêm xuống, khi bà định sắp lũ trẻ vào giường đâu ra đó (như bình thường bà xuỳ đàn gà vào chuồng), chúng cứ ì ra không nghe lời. Bà phải làm gì? Lấy ra những chiếc áo ngủ làm từ vỏ gối và mong chúng đổi ý, và vỗ vỗ vào mông chúng như quật bò cho đến khi chúng ngủ ư? Hay là đem một chậu nước ra giữa nhà những bàn chân nhỏ chạy rông suốt ngày, bẩn thỉu và rám nắng kia được ngâm rửa nhẹ nhàng nhỉ? Việc này đã làm Marcéline và Marcélette cười vui vẻ, nó cũng làm cho bà tin rằng Ti Nomme có thể ngủ chẳng cần nghe kể chuyện Croque-mitaine hay Loup-garou hay cả hai, hoặc Élodie sẽ ngủ mà chẳng cần ru hời gì hết.

“Tôi nói cho dì hay, dì Ruby - Moa-den Aurélie nói riêng với bà nấu bếp - tôi, tôi thà phải trông coi cả tá đồn điền còn hơn là bốn đứa nhỏ. Thật kinh khủng! Bonté (3), đừng có nhắc đến trẻ con trước mặt tôi!”

“Không thễ trông đợi bà hĩu tất tật về chúng, thưa bà. Tôi thấy rỏ ràng hôm goa bọn nó chơi với giõ chìa khoá của bà. Sao bà không ngăn chúng lại? Những thứ như thế làm răng chúng khó coi trong gưng. Còn nhiều điều bà phãi biết khi quãn lý trẽ con”.(4)

Moa-den Aurélie tất nhiên chả kỳ vọng hay thiết tha gì dăm mớ kiến thức xa xôi tinh tế mà Rudy thu lượm được trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của dì. Bà chỉ thấy hài lòng khi học được vài mẹo-làm-mẹ nho nhỏ để dùng khi cần.

Những ngón tay dính nhằng của Ti Nomme buộc bà phải “khai quật” lại chiếc tạp dề trắng mà nhiều năm không sờ tới, và bà cũng phải làm quen với những cái hôn ươn ướt của nó, một biểu hiện tình cảm trìu mến và chứa chan rất tự nhiên. Bà cũng phải hạ cái giỏ khâu lâu nay chẳng dùng, từ trên nóc chiếc giá làm bằng cây ngải hương xuống, đặt trong tình trạng sẵn sàng phục vụ cho những vết rách vì gai cào hay những cái khuy đứt. Bà cũng mất vài ngày để quen với tiếng cười, tiếng khóc, tiếng bi bô léo nhéo âm vang suốt cả ngày trong và quanh nhà. Và không phải ngay lập tức bà có thể quen ngủ yên với hơi nóng của con bé Élodie, thân hình mũm mĩm của nó đè sấp lên người bà và hơi thở ấm áp của một đứa khác phả vào má bà như cái đập cánh của một con chim.

Nhưng độ hai tuần sau, Moa-den Aurélie đã quen với tất cả những việc đó, bà không còn phàn nàn nữa.

Và cũng sau hai tuần, một buổi tối, Moa-den Aurélie nhìn về phía hàng rào, nơi bà vẫn thường đứng cho bầy gia súc ăn, bà thấy cỗ xe màu xanh của Valsin ở khúc quanh của con đường. Odile ngồi cạnh anh chàng người lai, lưng thẳng và đầy vẻ cảnh giác.Khi chiếc xe đến gần hơn, vẻ mặt rạng rỡ của người mẹ trẻ cho thấy chuyến trở về này của chị thật vui vẻ.

Nhưng việc này đến không báo trước và không lường trước, đã mang lại cho Moa-den Aurélie một cảm giác xao xuyến gần như là rung động. Phải tập hợp bọn trẻ lại. Ti Nomme đâu rồi? Thằng bé ngồi ở phía dãy chuồng gia súc xa kia, đang miết lưỡi dao trên một phiến đá mài. Còn Marcéline và Marcélette? Đang chơi trò may quần áo cho búp bê trong góc hiên nhà. Và Élodie thì đang bình yên trong vòng tay bà, hét lên sung sướng khi thấy bóng dáng quen thuộc của cỗ xe màu xanh mang mẹ về.

Sự náo động không còn, tất cả đã đi. Sẽ thế nào nếu bọn trẻ đi hết? Moa-den Aurélie đứng ở hàng hiên, nhìn và lắng nghe. Bà không còn nhìn thấy chiếc xe, hoàng hôn đỏ thắm cùng những tia sáng màu xám xanh yếu ớt cuối ngày và một đám mây tía bay ngang cánh đồng đã che khuất nó. Bà không còn nghe được tiếng kẽo kẹt lục cục của bánh xe. Nhưng bà vẫn nghe loáng thoáng tiếng nô đùa chói tai vui vẻ của lũ trẻ.

Bà quay trở vào nhà. Còn nhiều việc đang đợi bà, bọn trẻ đã để lại một đám bừa bộn, nhưng bà không muốn sắp xếp lại. Moa-den Aurélie buông mình xuống bên bàn. Bà lướt nhìn chầm chậm khắp căn phòng, bóng tối sâu thẳm dần bao phủ dáng hình đơn độc của bà. Bà gục đầu xuống cánh tay và oà khóc. Ồ, bà đã khóc! Không thút thít như thường thấy ở phụ nữ. Bà khóc ồ ồ như một gã đàn ông, với những tiếng nấc bật ra từ tâm hồn. Bà không để ý rằng Ponto đang liếm tay mình.


(1)Có lẽ nên dịch là bà hoặc cô. Tôi đặt chữ Moa-den vì nhân vật gốc Pháp và không có chồng.
(2)Lạy Chúa.
(3)Chúa lòng lành.
(4)Bà giúp việc này nói ngọng khá nhiều.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/shortstory4.html

Xuất hành hướng trái tim

Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ số Xuân Mậu Tý

Làn gió đông nam ẩm và ấm thổi qua chiếc chuông thủy tinh ở đầu hiên làm nó reo lên những thanh âm trong veo, hấp tấp. Nhắm mắt lại nghe, thêm chút tưởng tượng, thấy tiếng chuông hệt như tiếng một đứa con gái tuổi cập kê đang lanh chanh nhắc đi nhắc lại hai chữ “xuân xanh”.

Em gái ạ, mưa xuân chưa buông, lộc non chưa nhú, nhưng anh chàng gió đông nam hiền hòa đã đánh bật cái gã gió đông bắc khắc nghiệt tức là xuân không còn xanh nữa mà chuyển sang… ương ương rồi. Em mau sửa soạn đón tiếp đi thôi.

Có bao nhiêu việc phải chuẩn bị cho lễ rước xuân? Nhiều lắm, đủ để chép đầy một cuốn sổ con con. Giữa trang sổ mà chắc chắn sẽ có nhiều măng, miến, nhiều lá dong, hoa đào, nhiều khăn xinh, áo đẹp, nhiều tiền nong thu chi… nôm na là nhiều vật chất, thể nào cũng phải có một dòng nho nhỏ dành cho một việc hoàn toàn mang tính tinh thần mà vô cùng quan trọng: Xem tuổi tìm hướng xuất hành.

Ấy là nói cho oai vậy thôi chứ thực ra chỉ có người làm ăn lớn mới quan trọng chuyện xem tuổi nhìn mệnh tra sách này sách nọ ra hướng xuất hành. Người trần mắt thịt tay trắng đầu đen thì chỉ cần quyết chung chung rằng ngày đầu năm ấy mình sẽ đi đằng nào, vào lúc mấy giờ, thế là đủ. Nhưng cái tục lệ “thờ có thiêng kiêng có lành” của dân mình đánh đòn cũng không bỏ được. Là công dân mạng tưởng không nghĩ ngợi, hóa ra cũng phải mò vào tìm các trang lý số mà ướm hỏi ngó nghiêng xem “các thầy” phán hướng nào lợi, giờ nào tốt.

Hướng thì đơn giản, Đông Tây Nam Bắc cũng phiên phiến. Bây giờ ở chung cư hay mặt phố, xuất hành cứ phải theo hướng… cầu thang và đường một chiều, Hỷ thần hay Tài thần không đến thì cũng đành nhịn lấy chồng và lên lương thêm một năm chứ biết làm sao. Nhưng còn ngày giờ vẫn chủ động trong tay, chẳng nhẽ không ghé mắt một tí xem ngày giờ thuận cho việc… đi chơi? Có nhẽ đâu thế!

Thấy bảo, năm nay mùng Một mùng Hai là ngày Trực Bế, Trực Kiến, đều kị xuất hành. Muốn đi đâu phải đợi sang tới mùng Ba là ngày Trực Trừ gì đó mới được. Giá kể các năm thì cũng tặc lưỡi trùm chăn ngủ qua hai ngày Tết đấy, nhưng khổ nỗi cả năm qua mình đã mang tiếng ế mà lại vừa nhận được một lời đề nghị vô cùng đáng ngờ của một tên có đôi mắt lém lỉnh hết sức… đáng ghét! Biết làm thế nào đây? Phân vân lắm chứ.

Từ chối ư? Giải thích ra sao? Viện cớ này cớ nọ thì hắn sẽ cho rằng mình kiêu, mình “chảnh bà cố”. Nói lý do ngày xấu giờ hung thì hắn sẽ kết luận rằng mình là đồ mê tín ngu muội (mặc dù mình đúng như thế, nhưng hắn nói thẳng ra thì nghiêm trọng hơn nhiều). Rồi hắn dỗi, hắn giận, hay tệ hơn, hắn bảo rằng “từ nay ông không thèm mời nữa!”. Trời ơi, không, không thể từ chối được.

Còn nếu nhận lời? Nào ai mà biết trong cái ngày phải kiêng kị xuất hành như thế, mình và hắn đi long nhong thì sẽ xảy ra việc gì… Tai nạn giao thông? Xác suất không cao vì đường phố hoặc rất đông hoặc rất vắng mà mọi người thì cũng cẩn thận đi đứng đầu năm. Bị chém tiền gửi xe? Có thể lấy tiền mừng tuổi bù vào. Gặp mưa không có chỗ trú? Thì sẽ có cảnh đi trong mưa lãng mạn như trong phim Hàn Quốc. Trời ơi, mình có cần phải ra sức nói đỡ như thế không?

Thật ra là rất cần. Vì cơ hội chỉ đến một lần còn mấy ngày xuân thì ngắn ngủi. Đành rằng không có cơ hội này thì có giai ngẫu khác, đành rằng xuân này qua thì còn xuân khác, nhưng nhạc sĩ họ Trịnh đã dạy rồi, cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ. Chỉ vì mấy câu dặn dò không đâu của ông Đổng Trọng Thư đã chết cả ngàn năm lại ở tận bên Tàu mà đánh mất cơ hội cho một mối duyên (có thể) đẹp đẽ thì... dở hơi quá!

Vậy thôi, chẳng cần phải quan tâm tới giờ Thiên Đức, Ngọc Đường gì cả, cứ gửi cho hắn một tin nhắn dịu dàng và chờ đợi thời khắc sau giao thừa để hắn đợi ngoài hiên nhà, mình e thẹn đi ra.

Để cùng nhau hít sâu làn gió nam ẩm và ấm.

Để chỉ cho nhau những sợi mưa xuân vương vấn như tơ (tơ hồng, hy vọng thế!) trên nhành cây đầy lộc non nhu nhú.

Để lắng nghe tiếng chuông gió trong vắt, nhanh nhẩu, như cô gái tuổi cập kê đang đành hanh vòi vĩnh người thương.

Rằng: Xuân xanh… xuân xanh.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/short30.html

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2009

Lại chuyện lối mòn dẫn ra bãi giữ xe

Xưa nay tôi khá dị ứng với các kiểu sách dạy cách sống vui, cách làm người, rèn luyện nhân cách này nọ. Đã sinh ra đời mà không biết sống cho sướng cái thân, chứ phải đợi đến hai chục năm sau để một lão rậm râu hói trán tận đẩu tận đâu dạy cho biết, thì còn làm người làm cái gì! Nhân cách là thứ mình rèn luyện ở đời, bằng những kinh nghiệm (đôi khi) xương máu, chứ sách vở nào dạy cho được. Chưa kể xã hội loài người muôn hình muôn vẻ như vậy, bài học áp dụng được với người này nhưng vào tình huống của mình nó lại phản tác dụng thì sao. Vậy mà tôi lại mua một cuốn đặc sệt chất "Đắc nhân tâm" và bây giờ phải viết cái này để gỡ gạc sai lầm.

Đó là một cuốn sách nho nhỏ tập hợp những câu chuyện nho nhỏ của một người Trung Hoa có tên tuổi nho nhỏ. Những câu chuyện thì khá vui, nói về những sự việc ứng xử mà ai cũng có thể gặp trong cuộc sống thường ngày, giản dị gần gũi. Nhưng đáng tiếc là sau mỗi chuyện lại có một vài câu giải thích đúng kiểu "lối mòn vạch sẵn dẫn ra bãi giữ xe"*. Nói cho công bằng thì việc tác giả/dịch giả (mà tôi thì tôi nghi ông dịch giả hơn) vẽ lối ra chỗ gửi xe âu cũng là sự thường. Bởi vì với những độc giả thân yêu quen với kiểu làm văn theo mẫu, đọc văn theo mẫu, diễn văn theo mẫu, thậm chí điếu văn cũng theo mẫu, thì những đường đi tráng xi măng dẫn đúng ra chỗ gửi xe khá cần thiết, không vẽ sẵn nhỡ họ đi lạc vào bụi gai hay giẫm phải... chất thải mềm rồi lại oán tác/dịch giả thì sao.

Thế nhưng cái lối đi ở đây nhiều khi nó lộ liễu quá. Nó không chỉ tráng xi măng mà còn có cả lan can tay vịn với lại mái che. Nó không cho phép người ta được nhón chân chệch sang một tí, ngẩng đầu ngằm giời xanh mây trắng một tí. Nó cứ như một cái biển chỉ dẫn ghi "cánh đồng lúa" cắm trước một… cánh đồng lúa! Đọc cuốn sách này, tôi luôn gặp phải tình trạng vừa mỉm cười với mẩu ý nhị này lại phải cau mày với mẩu vô duyên khác. Mẩu ý nhị thì như sau: Khi người ta cáu giận phiền muộn, nếu bộc lộ ra mặt thì có nếp nhăn trên mặt, nếu giữ trong lòng thì có nếp nhăn ở tim... Xét theo dưỡng sinh thì nếp nhăn trên mặt đúng đạo hơn. Còn những mẩu vô duyên thì khó có thể nhớ mà kể lại được, vì nó nhiều và nhạt nhẽo, lắm ấy.

Bạn nào muốn biết mồm ngang mũi dọc mắt mọc hai bên của cả mẩu vô duyên lẫn mẩu ý nhị nó thế nào thì ra hiệu sách tìm cuốn "Lời nhỏ bên song" của tác giả Lưu Dung do Nhất Cư dịch và chú giải mà xem. Dù dịch giả là bạn của bạn tôi nhưng tôi vẫn phải nói thật, nếu không bận thì bạn cứ đứng ngay tại hiệu sách đọc ké thôi, chớ mua làm gì phí tiền. Còn tôi, thôi thì lỡ mua rồi, cũng đành để trong tầm mắt, lúc nào rỗi chân buồn tay lại cầm lấy giở nhoáy một trang, biết đâu có thể gặp một cái gì ý nhị hợp với hoàn cảnh của mình lúc bấy giờ. Nhưng với bản chất một kẻ keo kiệt đã xuất bản sách, tôi vẫn thấy tiêng tiếc. Giá kể cuốn sách được in khổ nhỏ lại, bơn bớt những minh hoạ lặp đi lặp lại cây tre cành cây chiếm đến 1/4 trang giấy đi, giá bán rẻ hơn, thế có khi lại hay!

Lời nhỏ bên song - Lưu Dung, Nhất Cư dịch và chú giải, NXB Trẻ



* Cách diễn đạt của Thảo Hảo trong tản văn "Tôi có đủ thuốc ngủ rồi" khi nói về những phần chú giải lộ liễu làm mất tính suy ngẫm của tác phẩm.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/breview13.html



Chùm ảnh: Sáng mùng Một, vắng

Ảnh và chú thích: Trần Thu Trang

7h30 sáng mùng Một Tết Mậu Tý, phố Nguyễn Khuyến (Sinh Từ cũ) không một bóng người - thực ra là có một người cầm máy ảnh ;).

Nút giao thông Cửa Nam trống thênh thang

Người đạp xích lô này đã đi qua vài phố thuộc khu phố cổ mà trên xe vẫn không có khách.

Quang cảnh Hồ Gươm khác hẳn vài tiếng đồng hồ trước, vắng lặng đến nỗi nghe được tiếng thở mạnh của người tập thể dục.

Đường phố lác đác người, thường là những phụ nữ đứng tuổi dậy sớm xúng xính đi lễ hoặc những người bán muối đầu năm.

Vẫn thấy hàng ăn mở bên đường nhưng chưa có mấy khách.

Hàng chè chén vỉa hè có vẻ được ưa chuộng hơn, có lẽ vì trà nóng, thuốc lào rẻ hơn bún hay phở mà cũng đủ ấm lòng.

Tôi vẫn giữ thói quen chụp đoạn phố Khâm Thiên trong ngày mùng Một theo bức ảnh cũ của tác giả khuyết danh. Đây đã là bức ảnh thứ ba hoặc thứ tư của tôi rồi mà tôi vẫn chưa tìm được nhiếp ảnh gia kia.


Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/gallery17.html

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2009

Phỏng vấn giả tưởng: Đôi co với cái mũ bảo hiểm

Cuối năm, công việc nhiều, tối mịt em mới trở về nhà. Vừa dắt xe vào, thò tay lên cởi mũ bảo hiểm thì thấy nó kêu oai oái.

Nó: Ấy, chị nhè nhẹ cái tay chứ. Chị không thấy tôi vạ vật cả ngày mệt à?

Em: Mày điêu vừa thôi mày! Tao mới là người vạ vật chứ mày thì tao đội suốt trên đầu.

Nó: Gớm, chị tưởng úp trên cái đầu của chị thì tôi sung sướng lắm hay sao. Nào khói, nào bụi, lại còn mưa gió rét mướt. Lúc chị đứng trong đám tắc đường, tôi cũng ngốt ngồn ngột đấy.

Em: Mày đừng có già mồm. Tao khổ hơn mày nhiều! Mày biết mày nặng bao nhiêu không?

Nó: Tôi thuộc dạng tiểu thư con nhà, mình hạc xương mai, nhẹ hều ấy mà.

Em: Mìnhhh hạccc xươnggg maiii! Nhẹ hềuuu! Cũng năm lạng rưỡi lẻ một hoa đấy. Mày tưởng tao đội cả nửa cân vừa nhựa vừa xốp trên đầu thì sung sướng lắm phỏng?

Nó: Thì tất nhiên là không. Nhưng nhà nước yêu cầu, chúng tôi phải có mặt. Mà cũng tại bọn người các chị cơ, ai bảo đi đứng hỗn loạn cho lắm vào, tai nạn chấn thương sọ não cho lắm vào. Các chị mà có ý thức tôn trọng luật giao thông một tí thì đã chả chết lắm người, người ta đã chả gọi là quốc nạn, nhà nước đã chả vắt óc nghĩ cách kiềm chế, chúng tôi đã chả bị bắt ngồi lên đầu lên cổ các chị.

Em: Mày đổ hết tội cho bọn tao đấy à?

Nó: Thế chị nghĩ tai nạn giao thông là do virus gây ra hở?! Không phải do bọn người nhà chị chở quá tải, quá người, đi xe không bằng lái, uống bia uống rượu rồi phóng nhanh vượt ẩu phanh gấp mất lái thì là gì. Rồi còn đường sá xuống cấp, cầu cống bị rút ruột, xe cộ không đủ tiêu chuẩn an toàn, biển báo giao thông bị đem cân sắt vụn, không phải người làm, dễ là bò làm chắc! Mà kể cả bò chạy ra quốc lộ gây tai nạn thì cũng có người chăn chứ không phải bò hoang, nhá!

Em: Nín, nín, nín, trật tự. Mày ngừng thuyết cho tao hỏi xem nào! Thế mày nghĩ bọn tao đội mày lên đầu thì sẽ không kẹp ba kẹp tư, không tổ lái đánh võng nữa à?

Nó: Khồng, được thế thì chúng em có ngồi trên đầu các chị hăm tư trên hăm tư em cũng làm. Nhưng chị ạ, em nghĩ rồi, các chị đội em trên đầu cũng như cái thằng khỉ họ Tôn nó đội vòng kim cô ấy. Bọn em không được ông sư nào niệm chú nhưng cũng có nhà nước bảo kê, tạm coi là biểu tượng của luật pháp và ý thức. Các chị lái xe có bọn em nằng nặng vương vướng trên đầu kìm lại, cũng bơn bớt bốc đồng.

Em: Mày nói nghe cũng lọt tai đấy! Nhưng mày có thấy là hôm nay tao đội mày cả khi vào công sở với ngân hàng không?

Nó: Thì tại chị xót em, sợ em bị cắt dây lấy trộm chứ gì. Em thấy nhiều bác mua hộp đựng đồ lắp vào xe, hay chị cũng mua một cái cho em đi.

Em: Tiền của tao có phải vỏ hến đâu, mày! Hai trăm mười mấy nghìn cho mày rồi, lại thêm mấy trăm tiền hộp nữa, tháng này tao lấy xốp trong ruột mày đổ vào nồi thay cơm à?

Nó: Thì thôi, chị cứ để em trên đầu cũng được. Đằng nào chị chả mang tiếng lập dị mấy lị cá tính rồi, có đội hai chiếc mũ cũng chẳng ai nói gì đâu.

Em: Ờ, giờ mùa lạnh thì tao vẫn gắng gượng lập dị cá tính được. Nhưng đến mùa nóng, đội mày đi ngoài đường cũng khốn khổ rồi, lại còn…

Nó: Từ giờ đến mùa nóng thì cái lệnh đội mũ nó cũng lỏng lỏng xừ ra rồi, em còn lạ gì cái kiểu đầu voi đuôi chuột của chính quyền nhà chị.

Em: Ờ, mà có khi đến lúc lệnh lỏng, tao lại nghiện mày cũng nên, không đội lại thấy thiếu thiếu nhớ nhớ.

Nó: Hi hi, nếu thế, chị sẽ có một thói quen văn minh. Ở các nước khác, họ lên xe máy là đội mũ bảo hiểm, lên ô tô là thắt dây an toàn, vào công trường hay nhà xưởng là mang các đồ bảo hộ, chứ đâu có tùy tiện như nước mình.

Em: Hiểu biết gớm!.

Nó: Thì lúc chị đội em ngồi ôm máy tính ở quán cà phê wifi, em cũng đọc ké tin tức mà. Chị cứ nói mùa nóng thì không đội được mũ. Thái Lan, Indo họ cũng nóng kém nước ta đâu mà dân họ vẫn đội đầy đủ. Em thấy xe ôm ở Bangkok còn chuẩn bị sẵn cái mũ vải dùng một lần để khách nào sợ nấm tóc thì lấy đội bên dưới mũ bảo hiểm cơ.

Em: Sáng kiến hay nhỉ! Nhưng thế thì có bị coi là sai quy cách không? Tao thấy dạo này báo chí hết tuyên truyền về việc đội mũ (vì ai cũng đội rồi), chuyển sang tuyên truyền về đội mũ đúng với lại sai quy cách. Nói leo lẻo thế, lại còn dọa là đội sai quy cách thì liệt cả người, nhưng cái hình minh họa cụ thể về việc đội mũ thế nào là đúng thì không có.

Nó: Chị cứ phải từ từ. Mấy cái đấy chắc các ông ở trên còn đang cãi nhau chưa xong. Mà khi mua em, họ có đính kèm cái hướng dẫn sử dụng, chị không đọc à?

Em: Tao đọc chứ, nhưng không thấy nói là có được đội mũ vải ở dưới hay không. Thật, có khi tao cũng phải sắm cái mũ vải, chứ đội mày lắm, đầu tao sinh chấy với nấm.

Nó: Chị cứ lo chuyện không đâu. Mỗi tuần chị tắm giặt cho em một lần , ngày nào chị cũng gội đầu, sấy khô tóc rồi mới đội em lên thì chấy nấm nào sống được. Đứa nào nói đội em bị chấy nấm, chị cứ chửi vắt nóc lên cho em. Rõ là cái đồ ở bẩn lại còn hay đổ tại…À, mai chị viết chữ www.sachcuatrang.com lên eo em nhé. Hôm nay tắc đường em thấy có đứa cõng cả tên chủ trên lưng, trông oách lắm.

Em: Ờ, tao cho cuộc nói chuyện của tao với mày lên đấy luôn. Nhưng tóm lại tao bỏ mày ra để đi gội đầu được chưa?

Nó: Rồi, chị bỏ đi. Nâng niu em một tí nhé, vì em nâng niu đầu chị mà.

Chủ nhật, 30/12/2007, sau nửa tháng chính thức đội mũ bảo hiểm

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/weekend22.html

Yêu.net

Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem

(Nguyễn Trãi)

Tim đập nhanh giục check mail
Nhưng mà kết nối cứ fail như thường.
Modem ơi hãy rủ thương,
Wifi hàng xóm hãy nhường cho em
Log in một phút để xem
Người yêu em có đính kèm file không…

Tình thư inbox còn phong
Gió nơi đâu gượng click dòng nhắn yêu.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/poems3.html

Kết cục buồn

Mối tình thứ nhất tan, nàng nhìn các quán cà phê, lòng đau như cắt, không muốn bước vào. Thế là chuyển sang quán bia hơi (mùa hè) và rượu dân tộc (mùa đông).

Mối tình thứ hai tan, nàng nhìn các quán bia hơi và rượu dân tộc, lòng lại đau như cắt, không muốn bước vào. Thế là chuyển sang bar và discothèque.

Mối tình thứ ba cuối cùng cũng tan, nàng nhìn các bar và discothèque, lòng tiếp tục đau như cắt, không muốn bước vào. Thế là chuyển sang... ở nhà.

Chăm chồng, chăm con.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/shortstory1.html

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2009

Bài đã đăng trên Sài Gòn Tiếp thị ngày 08/03/2007

Trong thời đại hội nhập kinh tế hiện nay, một món ăn bình dân muốn hấp dẫn thực khách thì cần có một thương hiệu khác biệt hoặc ít nhất là có chỉ dẫn địa lý đặc trưng. Nghĩa là nếu không gán được cho món ăn cái tên bà nọ ông kia, người ta cũng phải gắn nó với địa danh làng quê huyện thị nào đó mới mong thực khách chú ý tới. Vậy mà có một món ăn từ bao nhiêu năm nay vẫn chỉ có độc cái tên trơ trọi mà vẫn hấp dẫn người Hà Nội đều đều: Bánh đa kê.

Người ta coi bánh đa kê mặc định là một món quà vặt, ăn cho đỡ nhạt miệng trong buổi chiều rảnh rỗi. Hạt kê nhỏ li ti được sàng sảy kỹ càng, ngâm nước vôi rồi bỏ vào nồi nấu như cháo đặc, phết lên một mảnh bánh đa nướng. Tùy theo tiền khách đưa mà người bán bẻ mảnh mảnh bánh đa to như bàn tay hay bé như bao diêm. Hết lớp kê sẽ là một lớp đậu xanh. Đậu xanh đồ chín, giã thật mịn, nắm thành những nắm thật chặt tay, giống thứ đậu vẫn thấy khi ăn xôi xéo. Người bán hàng lấy con dao nhỏ phạt phạt bên rìa nắm đậu, những lát đậu mỏng màu vàng nhàn nhạt rơi lả tả phủ lên lớp kê nâu sẫm. Cuối cùng là một lớp đường mỏng, nhất định phải là đường trắng mịn để khi ăn gây hiệu ứng âm thanh. Rồi người bán ghé cái sống dao vào giữa mảnh bánh đa đã dày lên trông thấy ấy, ấn nhẹ để chia nó làm hai nửa, úp vào nhau. Người ăn phải ngay lập tức đón lấy chiếc sandwich lạ lùng ấy và cắn. Miếng bánh đa kêu "rốp" một cái, những hạt đường nhỏ lạo xạo trong miệng, cái mùi vị ngang ngang của kê ngâm nước vôi được vị ngọt của đường cùng mùi thơm của đậu xanh và bánh đa làm dịu đi. Một loáng sau, miếng bánh đa kê đã trôi tuột xuống bụng, chỉ còn lại mấy mảy đậu và tí tẹo đường dính lại quanh miệng. Người bán thì đã nhận số tiền lẻ một đôi ngàn và đi mất rồi, muốn ăn thêm cũng không được, đành liếm mép chờ lần sau gặp thì lại ăn vậy!

Sở dĩ phải chờ lần sau gặp là vì không có quán hàng cố định nào bán bánh đa kê cả. Món ăn này 100% thuộc về đường phố, thuộc về vỉa hè. Một người phụ nữ, có thể trẻ, có thể lớn tuổi, hoặc một tay cắp rá một tay xách túi bánh đa, hoặc chở thúng ở yên sau xe đạp và đặt túi bánh đa trước giỏ, đi rong khắp phố với một tiếng rao vừa đủ nghe, ai để ý thấy thì gọi lại mua, không thì thôi. Món ăn bình dị đến rồi đi rồi khiến người ta phải thòm thèm bằng cái cách khiêm nhường chừng mực như thế.

Xét kỹ ra, cái tên “bánh đa kê” có lẽ không được đầy đủ cho lắm. Món ăn này phải có tên là “bánh đa kê đậu xanh đường” mới đúng. Nhưng ấy là kiểu đặt tên theo thành phần công thức cứng nhắc rồi, những người khách ăn thường xuyên chẳng dài dòng như thế bao giờ, thường họ chỉ gọi món này bằng một chữ “kê” gọn lỏn. Thì người ăn với món ăn cũng như bạn bè thân thiết ấy mà, biết nhau quá rồi, thân nhau quá rồi, gọi nhau bằng tên tục, bằng nickname thôi, cần gì phải gọi cả tên họ lẫn tên đệm nhau ra…

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/short14.html

Buôn chuyện cùng Trang

Tác giả: Cao Thanh An

99 tuần không phải là một khoảng thời gian không quá dài để ta quên đi những điều đã qua và cũng không quá ngắn để ta có thể chiêm nghiệm về những nhân những quả của mọi hành động diễn ra quanh mình. 99 tuần, không quá dài và cũng không quá ngắn, đủ để biến một cô bé Trang nhí nhảnh hồn nhiên trong Nhật ký tình yêu TIO thành một người phụ nữ đằm thắm cuồng nhiệt đam mê trong Phải lấy người như anh, Cocktail cho tình yêu và cuối cùng thành một “bà cô” đanh đá, nhìn cuộc sống với con mắt xét nét hơn, khắt khe hơn nhưng cũng vị tha, từng trải hơn.

99 buôn chuyện tuần bắt đầu bằng việc Trang từ một cô gái chỉ được biết đến qua vài diễn đàn trên mạng “chen chân” một cách tình cờ vào thế giới “người nổi tiếng” sau khi xuất bản 2 tác phẩm đầu tiên: Nhật ký tình yêu TIO Phải lấy người như anh. Và thời gian cứ thế trôi qua, 99 bức thư đều đặn hàng tuần, như Trang nói, “chỉ để luyện thêm tay nghề viết lách” và “để giao lưu với những độc giả thân mến và không thân mến”, là 99 câu chuyện xung quanh cuộc sống của một cô gái trẻ già mồm trên mạng nhưng lại nhút nhát ngoài đời.

99 tuần là 99 mảnh ghép của một tính cách. Người ta có thể bắt gặp một Trang mong manh dễ vỡ trong câu chuyện về những con mèo ốm và cay nghiệt khi nói về những độc giả cố chấp thiển cận – cố tình “chê con tao xấu” mà chẳng thèm liếc mắt nhìn “đứa bé”, một Trang đầy vị tha khi đề cập đến thiên tai bão lũ và mỉa mai cay độc khi nói đến những chuyện chướng tai gai mắt vẫn xảy ra hàng ngày, một Trang với cái nhìn xót xa khi bàn về chuyện văn chương chữ nghĩa và nồng nhiệt đam mê khi kể về những đứa con tinh thần của mình. Những câu chuyện gần gũi vẫn xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, ai cũng có thể gặp và mội người lại có cách ứng xử của riêng mình. 99 tuần của Trang không phải tuần nào cũng đầy ắp sắc màu và sự kiện, những lá thư hay xen kẽ với những lá thư quanh quẩn quanh sự bế tắc của bản thân tác giả. Phải chăng thế mới là cuộc sống? Và buôn chuyện cũng thế thôi, đôi khi chỉ những món hàng xén con con mà người ta vẫn có thể buôn.

Một điều thú vị là phía cuối những bức thư hàng tuần nho nhỏ ấy, trong phần “tái bút dành cho tiếng Việt”, người ta bắt gặp một cô gái thật sự nghiêm túc trong việc sử dụng tiếng Việt. Thường những tái bút của Trang được tra cứu cẩn thận qua sách vở, qua mạng internet, qua những người bạn nhiều kinh nghiệm hơn về ngôn ngữ là những chú thích về cách dùng từ ngữ tiếng Việt khá bổ ích tuy không phải bao giờ cũng chính xác tuyệt đối, đôi khi lại mang tính cực đoan, hoài cổ. Những người khó tính về ngôn ngữ sẽ có một cảm giác hài lòng vì gặp được một bạn trẻ có thái độ trân trọng với ngôn ngữ, những kẻ dễ dãi hơn thì sẽ giật mình vì hóa ra lâu nay mình dùng sai mà không biết. Dẫu hiện nay có quan điểm cho rằng tiếng Việt là sinh ngữ, không phải là tử ngữ, những từ ngữ mới có được quyền “sai” so với nguồn gốc ban đầu nếu được số đông chấp nhận, cái sai sẽ trở thành đúng theo thời gian thì việc cặm cụi tìm hiểu về từ nguyên học của một người viết trẻ luôn là việc đáng được trân trọng.

Nếu bạn mong chờ một thiên truyện diễm tình như trong Cocktail cho tình yêu hay Phải lấy người như anh thì 99 tuần buôn chuyện không phải là quyển sách dành cho bạn. Nhưng nếu bạn muốn tìm những tản văn, những dòng tâm sự về cuộc sống của một cô gái đầy cá tính, sao bạn không thử buôn chuyện cùng Trang? 99 tuần không phải là khoảng thời gian quá dài và chỉ vỏn vẹn trong vài trăm trang sách nhưng cũng đủ để bạn hiểu thêm cuộc sống qua lăng kính của một người viết trẻ. Dù buồn, dù vui, nếu có ai đó để cùng “buôn” thì cuộc sống vẫn sẽ nhẹ nhàng hơn.

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/99tbc-review2.html

Một chỗ trên Thiên đường

(Chuyện kể Giáng sinh của Paulo Coelho, tôi dịch từ bản dịch tiếng Anh của Margaret Jull Costa do Alpha-book cung cấp)

Ngày xưa ở vùng Đông Bắc Brazil có đôi vợ chồng nọ rất nghèo, của cải trong nhà chỉ có một con gà mái. Họ gắng tằn tiện đắp đổi qua ngày với số trứng gà ít ỏi. Thế nhưng ngay hôm trước Giáng sinh, con gà mái chết. Người chồng còn đúng vài xu chẳng đủ mua bữa tối, anh tìm đến nhờ cha xứ giúp đỡ. Thay vì đưa anh tiền, cha xứ chỉ dặn rằng:

- Chúa không cho ai cũng không lấy của ai tất cả. Số tiền con có hầu như chẳng mua được gì, vậy thì cứ ra chợ và mua thứ đầu tiên người ta chào mời con. Ta sẽ cầu nguyện cho cuộc mua bán. Giáng sinh là dịp của những phép màu, biết đâu điều gì đó sẽ xảy đến khiến con đổi đời.

Người chồng bán tín bán nghi trước lời chỉ dạy nhưng vẫn đi ra chợ. Một người lái buôn thấy anh dạo quanh lơ đãng bèn đến hỏi xem anh đang tìm món gì.

- Tôi không biết. Tôi ít tiền lắm nhưng cha xứ bảo rằng cứ mua món đầu tiên người ta chào bán.

Người lái buôn rất giàu nhưng không bao giờ bỏ qua một cơ hội kiếm lời nào dù nhỏ. Ông ta lấy của người chồng mấy xu mọn và đưa lại cho anh một mảnh giấy viết nguệch ngoạc:

- Đức cha nói cũng đúng đấy. Tôi thì lúc nào cũng thương người mà hôm nay lại là ngày lễ, tôi sẽ bán cho anh chỗ của tôi trên Thiên đường. Đây có giấy này làm bằng.

Người chồng cầm tờ giấy ra về trong khi người lái buôn rạo rực tự hào vì món hời bất chợt. Tối đó trong ngôi nhà đầy ắp kẻ hầu người hạ, khi chuẩn bị dùng bữa, ông ta kể chuyện đó cho vợ nghe, không quên nói rằng nhờ nhanh trí như thế nên ông ta mới giàu như ngày nay.

- Thật là xấu hổ! - bà vợ nói. Tưởng tượng xem ông cư xử thế nào trong ngày Đức Chúa giáng sinh. Đi ngay đến nhà người ta và lấy cái giấy về, không thì đừng bước chân vào nhà này nữa!

Phát hoảng vì cơn thịnh nộ của vợ, người lái buôn quyết định nghe lời bà. Hỏi thăm mất một lúc lâu, cuối cùng ông ta cũng tìm được nhà của vợ chồng kia. Bước vào trong, ông thấy họ đang ngồi bên chiếc bàn trống trơn, không có gì ngoài mảnh giấy.

- Tôi đến vì tôi đã sai - người lái buôn nói - Đây là tiền của anh. Giờ hãy trả lại tôi thứ tôi đã bán.

Người chồng trả lời:

- Ông không làm gì sai cả. Tôi đã nghe lời đức cha và tôi biết rằng thứ tôi mua được ban phước lành.

- Nhưng đó chỉ là một mảnh giấy thôi. Vả lại, chẳng ai bán được chỗ của họ trên Thiên đường cho người khác. Nếu anh thích tôi sẽ đưa lại anh gấp đôi số tiền đã trả.

Tuy vậy, vì tin tưởng vào phép màu, người đàn ông nghèo từ chối bán lại tờ giấy. Người lái buôn dần dần tăng số tiền lên tới mười đồng vàng.
- Không được - người chồng nói - Để vợ tôi có cuộc sống sung sướng xứng đáng với cô ấy, tôi cần đến một trăm đồng vàng. Đó chính là phép màu mà tôi đang trông đợi trong đêm Giáng sinh này.

Thất vọng và hiểu rẳng nếu còn nấn ná lâu nữa thì không ai trong nhà mình kịp ăn tối và đi lễ nửa đêm, người lái buôn cuối cùng đồng ý trả một trăm đồng vàng để chuộc lại mảnh giấy. Phép lạ đã hiển hiện, hơn cả sự mong đợi của đôi vợ chồng nghèo. Còn người lái buôn, ông đã làm xong lời vợ dặn. Thế nhưng bà vợ vẫn còn rất băn khoăn. Phải chăng bà đã quá nặng tay với chồng mình?

Ngay sau khi xong buổi lễ nửa đêm, bà tới gặp cha xứ và kể đầu đuôi câu chuyện cho ông.

- Thưa cha, nhà con đã gặp một người. Anh ta nói rằng cha khuyên ra chợ mua ngay món đầu tiên được chào mời. Chồng con thấy dịp kiếm tiền dễ dàng nên đã viết giấy bán cho anh ta chỗ của ông ấy trên Thiên đường. Con đã bảo nhà con rằng ông ấy không được về nhà ăn bữa tối nay nếu không lấy lại tờ giấy. Cuối cùng thì ông ấy phải trả một trăm đồng vàng để chuộc. Có phải con đã đi quá xa không? Liệu một chỗ trên Thiên đường có đáng giá đến thế không, thưa cha?

- Trước hết thì chồng con đã có thể tỏ ra hào phóng trong ngày hôm nay, ngày lễ lớn nhất trong năm. Sau nữa, ông ấy đã trở thành người đem tới điều kỳ diệu của Chúa. Nhưng câu trả lời cho con đây: Khi ông ấy bán chỗ của mình trên Thiên đường với giá vài xu, cái chỗ kia thậm chí chẳng đáng chừng ấy tiền. Nhưng khi ông ấy mua lại nó với giá một trăm đồng vàng chỉ để vợ vui lòng thì ta có thể cam đoan với con, hành động đó khiến chỗ trên Thiên đường đáng giá hơn thế nhiều nhiều.

(Dựa trên một câu chuyện Do Thái của David Mandel)

Nguồn: http://www.sachcuatrang.com/shortstory3.html